Theo quy định, 6 quyền của người dùng bao gồm:
1. Quyền được biết dữ liệu cá nhân của mình được sử dụng như thế nào.
2️. Quyền đồng ý hoặc không đồng ý, cũng như yêu cầu rút lại sự đồng ý cho phép sử dụng dữ liệu cá nhân
3️. Quyền được xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân.
4️. Quyền yêu cầu cung cấp, xóa hoặc hạn chế việc sử dụng dữ liệu cá nhân, đồng thời gửi yêu cầu phản đối việc sử dụng dữ liệu cá nhân.
5️. Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
6️. Quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền, hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc sử dụng dữ liệu cá nhân, thực hiện các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình theo quy định của pháp luật.
Đối với các hành vi vi phạm, mức xử phạt vi phạm hành chính có thể lên tới 3 tỷ đồng hoặc 5% doanh thu của doanh nghiệp vi phạm, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Luật không chỉ áp dụng với tổ chức, cá nhân trong nước, Luật còn mở rộng phạm vi điều chỉnh tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân. Luật đưa ra quy định riêng cho từng ngành nghề, qua đó giúp các tổ chức triển khai đúng chuẩn bảo mật trong lĩnh vực hoạt động của mình, tránh rủi ro pháp lý.
Việc xây dựng và thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đã được thực hiện một cách thận trọng, kỹ lưỡng, là bước tiến quan trọng của Việt Nam trong xây dựng môi trường pháp lý số minh bạch, tin cậy và phù hợp thông lệ quốc tế; đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền dữ liệu cá nhân; ngăn chặn các hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cần chủ động rà soát lại toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu, cập nhật chính sách bảo mật, đào tạo nhân sự và xây dựng hệ thống tuân thủ để thích ứng kịp thời, bảo vệ người dùng và tránh rủi ro pháp lý.
T. Phượng