Theo đó, hoạt động hụi diễn ra rất phổ biến, tự phát, trên cơ sở thỏa thuận của các thành viên; số tiền và số người tham gia ngày càng lớn. Phần lớn các dây hụi đều không thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã, gây khó khăn cho công tác quản lý. tình trạng vỡ hụi trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp, gây thiệt hại về kinh tế cho người tham gia và gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương xảy ra vỡ hụi. Để quản lý hoạt động hụi, ngày 19/02/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2019/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường. Đồng thời, Chính phủ ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; trong đó có quy định các hành vi vi phạm pháp luật về hụi và các hình thức xử lý.
Việc chơi hụi được Chính phủ quy định tại Nghị định số 19/2019/NĐ-CP nhưng việc nhận thức, hiểu biết của chủ hụi, hụi viên và người dân còn rất hạn chế. Trong thời gian tới, người dân khi tham gia các dây hụi cần phải lưu ý những nội dung sau:
+ Theo Điều 3 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Việc tổ chức hụi phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự; việc tổ chức hụi chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về hụi; không được tổ chức cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.
+ Điều 7 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Thỏa thuận về dây hụi được thể hiện bằng văn bản. Văn bản thỏa thuận về dây hụi được công chứng, chứng thực nếu như những người tham gia dây hụi yêu cầu.
+ Điều 13 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Khi góp, lĩnh hụi, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì các thành viên có quyền yêu cầu chủ hụi hoặc người lập và giữ sổ hụi cấp giấy biên nhận về việc đó.
+ Điều 14 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Chủ đầu hụi phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú khi tổ chức dây hụi có giá trị các phần hụi tại một kỳ mở hụi từ 100 triệu đồng trở lên hoặc tổ chức từ hai dây hụi trở lên
+ Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Lãi suất trong hụi có lãi do các thành viên của dây hụi thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để lĩnh hụi tại mỗi kỳ mở hụi nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần hụi phải góp trừ đi các phần hụi đã góp trên thời gian còn lại của dây hụi. Trừ trường hợp mức lãi suất nói trên được điều chỉnh bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự thì áp dụng mức lãi suất giới hạn đó theo quy định.
+ Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP quy định: Trong trường hợp tranh chấp về hụi hoặc phát sinh từ hụi thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định. Chủ hụi, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về hụi.
Điều 19 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; trong đó có quy định các hành vi vi phạm pháp luật về hụi và các hình thức xử lý:
1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi;
b) Không thông báo đầy đủ về số lượng dây họ, hụi, biêu, phường (sảu đây gọi tắt là họ), phần họ, kỳ mở họ hoặc số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ;
c) Không lập biên bản thỏa thuận về dây họ hoặc lập biên bản nhưng không có các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật; d) Không lập số họ;
đ) Không giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ;
e) Không cho các thành viên xem, sao chụp số họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu;
g) Không giao giấy biên nhận cho thành viên khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100.000.000 đồng trở lên;
b) Không thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức từ hai dây họ trở lên.
3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Lợi dụng việc tổ chức họ để cho vay lãi nặng mà lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự;
b) Tổ chức họ để huy động vốn trái pháp luật.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.